CÓ CẦN MỘT "KHẢI HOÀN MÔN" BÊN HỒ HOÀN KIẾM?
Lời BBT: Đề xuất xây dựng công trình biểu tượng “Khải hoàn môn” tại khu vực hồ Hoàn Kiếm đang thu hút sự quan tâm và những ý kiến khác nhau từ giới chuyên môn và dư luận. Từ góc nhìn lịch sử, kiến trúc, văn hóa và giá trị di sản, bài viết phân tích sự phù hợp của ý tưởng này với không gian đặc biệt của Hồ Gươm, đồng thời gợi mở cách ứng xử thận trọng với một di sản đã trở thành ký ức và biểu tượng chung của Thủ đô và đất nước.
Ý tưởng về một khải hoàn môn bên bờ hồ Hoàn Kiếm
Thành phố Hà Nội đang cải tạo, chỉnh trang khu vực hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận theo hướng mở rộng không gian công cộng ở phía Bắc hồ, hạ độ cao những nhà cao tầng xung quanh, và giảm bớt những khối nhà thấp tầng chật chội, xuống cấp để tạo ra một không gian thoáng đãng gắn với mặt nước. Đây là điều rất đáng làm và đang nhận được sự đồng tình rộng rãi của người dân không chỉ ở Thủ đô mà trên khắp cả nước. Tuy nhiên, điều bất ngờ trong tổng thể quy hoạch này là đề xuất xây dựng một công trình biểu tượng mang tên "Khải hoàn môn" cao 36m, dự kiến đặt tại Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, sẽ được mở rộng lên gần 2ha và đổi tên thành Công viên Quảng trường Thời đại.
Kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, đại diện đơn vị tư vấn quy hoạch của Thành phố, giải thích rằng ý tưởng bố trí công trình biểu tượng "Khải hoàn môn" ở khu vực phía Bắc hồ nhằm tạo điểm nhấn kết nối trục không gian Nam - Bắc từ Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn lên phía Bắc, và đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của Thủ đô trong kỷ nguyên vươn mình. Theo lời ông: "Khải hoàn môn là biểu tượng của chiến thắng, của sự khải hoàn. Không nhất thiết phải đặt một cánh cổng ngay cửa thành. Nếu tinh thần ấy có thể vang lên giữa lòng Hà Nội, ngay bên hồ Gươm, tôi cho rằng đó sẽ là một điểm rất đặc biệt cho Hà Nội và đất nước".
Về đề xuất trên, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng hồ Hoàn Kiếm vốn đã chứa đựng nhiều lớp giá trị lịch sử và tinh thần, không nên tiếp tục tập trung thêm các công trình biểu tượng vào một không gian vốn nhỏ hẹp. Theo ông, "bản thân Hồ Gươm và những câu chuyện lịch sử gắn liền với nó đã là một khải hoàn môn vô giá trong lòng người dân. Bảo tồn Hồ Gươm trước hết là bảo vệ khoảng không, ký ức và tinh thần của nơi này, thay vì bổ sung một công trình lớn để tạo biểu tượng".
Cũng kiến nghị Hà Nội cần cân nhắc, nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, người có nhiều gắn bó với Hà Nội, cho rằng khu vực phía Bắc nằm sát khu phố đông dân cư, buôn bán sầm uất, các tuyến đường giao cắt tương đối hẹp, nên người dân đứng từ xa sẽ khó quan sát trọn vẹn công trình. Theo ông, một công trình mang tính biểu tượng như khải hoàn môn cần được đặt trong không gian đủ rộng, trên một đại lộ hoặc quảng trường có tầm nhìn thoáng, để quan sát được từ nhiều hướng, thay vì bị bao quanh bởi không gian chật hẹp. Về mặt tâm linh, tín ngưỡng, ông nói khải hoàn môn cũng cần khả năng "trông ra bốn hướng", yếu tố phải được tính đến ngay từ đầu; và nếu tiếp tục đưa công trình mới vào khu vực Hồ Gươm, "nguy cơ xung đột với những giá trị thẩm mỹ cũ là rất lớn".
Còn theo kiến trúc sư Trình Phương Quân, tên gọi "khải hoàn môn" dễ khiến người ta liên tưởng đến những công trình vinh danh chiến thắng trong lịch sử kiến trúc phương Tây, gắn với hình ảnh đại lộ, quảng trường và những cấu trúc mang tính nghi lễ. Nhưng đặt trong bối cảnh Hồ Gươm, khái niệm này có thể được diễn giải rộng hơn: có thể là sự khải hoàn của hòa bình, của phát triển, của một đất nước bước sang một giai đoạn mới.
Lịch sử khải hoàn môn trên thế giới
Ngữ pháp tạo hình cốt lõi của mọi khải hoàn môn về cơ bản đều là một khối đặc được khoét một lối để người ta "đi xuyên qua". Cái vòm (arch) vừa là kết cấu chịu nén, vừa là ẩn dụ về việc "bước qua" ngưỡng chiến thắng. Đó cũng là lý do nó mang tên "môn" (cổng).
Suốt hơn 2000 năm, từ thời La Mã cổ đại đến châu Âu cận đại, những khải hoàn môn lớn hầu như luôn đứng trên đường, quảng trường hoặc trục nghi lễ, nơi đoàn quân thắng trận tiến đến, đi xuyên qua, rồi tiếp tục hành trình. Khải hoàn môn Titus ở La Mã nằm trên Via Sacra, tuyến rước lễ dẫn qua trung tâm thành phố. Khải hoàn môn Constantine, hoàn thành năm 315, đứng cạnh tuyến rước gần đấu trường Colosseum ở Roma. Ở Paris, hoàng đế Napoléon ký sắc lệnh xây khải hoàn môn năm 1806 và đặt nó ở Place de l’Étoile, đầu phía Tây đại lộ Champs-Élysées, trên trục cảnh quan mà André Le Nôtre đã tổ chức từ năm 1667; đến thế kỷ 19, Haussmann cho làm 12 đại lộ tỏa ra từ công trình. Cổng Brandenburg ở Berlin nằm ở đầu đại lộ Unter den Linden, có 5 lối xuyên qua. Khải hoàn môn Patuxai ở Viêng Chăn nằm giữa trục đường lớn của thủ đô Lào. Ngay cả khải hoàn môn cao 60m ở Bình Nhưỡng cũng đứng giữa một quảng trường lớn và mạng lưới giao thông đông đúc của thủ đô Triều Tiên.
Điểm chung của tất cả là từ xưa tới nay, người ta không đi tìm một hồ nước đẹp rồi dựng chiếc “cổng” khổng lồ bên bờ để "tạo khung nhìn xuống mặt nước", mà chỉ đặt “cổng” ở nơi có lối đến, có lối xuyên qua và có lối đi tiếp. Nói cách khác, khải hoàn môn cần một hành trình, còn hồ nước là nơi kết thúc hành trình. Đặt một khải hoàn môn quay mặt ra hồ, về nguyên lý, chính là đặt sai thể loại vào sai bối cảnh.
Lịch sử cũng có một ngoại lệ đáng bàn. Ngoài khải hoàn môn ở thủ đô New Delhi vốn nằm trên một trục đường lớn và công viên để mọi người tập trung và đi dạo xuyên qua, Ấn Độ còn có Gateway of India ("Cổng vào Ấn Độ") ở thành phố Mumbai, "tiền lệ" sát nhất với ý tưởng đang đề xuất cho Hà Nội. Đó là một cổng khải hoàn cao 26m đặt ngay sát mặt nước là biển, xây dựng năm 1924. Vị trí khác thường này cho thấy ngay cả khi "cổng" nằm bên mặt nước vẫn có thể thành công về mặt biểu tượng. Nhưng có một khác biệt lớn so với dự án Hà Nội: mặt nước ở Mumbai là biển cả mênh mông, chứ không phải một hồ nhỏ như Hoàn Kiếm, nơi vốn đã có một biểu tượng tâm linh là Tháp Rùa "định vị" toàn bộ không gian.
Khung di sản hay biến di sản thành hậu cảnh?
Thuyết minh phương án nói rằng khoảng mở giữa hai khối kiến trúc sẽ tạo một "khung hình" hướng tầm mắt qua mặt hồ tới Tháp Rùa và đường chân trời phía Nam. Nhưng hồ Hoàn Kiếm vốn đã có khung cảnh của riêng mình, hình thành qua nhiều thế hệ: mặt nước, hàng cây, Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc và những lớp phố thấp bé san sát bao quanh. Tháp Rùa nhỏ bé nổi lên giữa hồ nhưng vẫn là điểm nhấn đầy ý nghĩa, bởi giá trị của nó chưa bao giờ đến từ chiều cao.
Một bức tranh cần khung vì nó có ranh giới. Hồ Gươm thì ngược lại, đó là một không gian đô thị sống, mở ra từ nhiều hướng và đổi thay theo từng bước chân. Đặt một khối cao 36m (tương đương một tòa nhà 10-12 tầng) vào một hướng tiếp cận quan trọng ở phía Bắc có nguy cơ biến cảnh quan tự nhiên của hồ thành thứ cảnh trí nằm sau kiến trúc mới. Muốn ngắm Tháp Rùa, lâu nay người ta đâu cần nhìn xuyên qua một chiếc cổng; muốn thấy Hồ Gươm, cũng đâu cần một công trình cao 36m đứng chắn phía trước để "hướng mắt". Câu hỏi cốt lõi vì thế là: công trình mới làm Hồ Gươm đẹp hơn, hay Hồ Gươm đang bị dùng làm nền để công trình mới nổi bật hơn?
Dù chưa bàn sâu về tính nghệ thuật của công trình, nhưng rõ ràng là về ngôn ngữ tạo hình, phương án thành phố đưa ra còn một mâu thuẫn nội tại. Nếu một khải hoàn môn đúng nghĩa là một khối đặc khoét lối để đi xuyên qua, thì ở đây lại là hai cánh (chim hạc) tách rời, với một khoảng hở ở giữa nâng lá quốc kỳ, tức chỉ tạo ra một cái "khe" để ngắm, chứ không phải một cái "cổng" để qua. Nó không phải "môn", mà cũng chưa hẳn là tượng đài thuần túy. Thêm vào đó, việc phóng một họa tiết đồ họa phẳng (cánh chim hạc trên trống đồng Đông Sơn) lên thành một kết cấu ba chiều cao 36m rất dễ rơi vào minh họa phô trương, thay vì được “chưng cất” thành ngôn ngữ kiến trúc. Bên một mặt hồ sống bằng sự tĩnh lặng, tỷ lệ mảnh mai và bóng nước phản chiếu, một cử chỉ đối xứng nặng nề như vậy sẽ cạnh tranh chứ khó lòng hòa nhập, bổ sung.
Cũng cần nói lại cho công bằng về lý lẽ của phía đề xuất dự án rằng "khải hoàn" ở đây nên được hiểu rộng là khải hoàn của hòa bình, của phát triển; và rằng ý nghĩa một công trình có thể bồi tụ theo thời gian, như Cổng Brandenburg ở Đức vốn là cổng thành mang tinh thần hòa bình rồi mới dần thành biểu tượng chiến thắng và thống nhất. Nhưng chính cách hiểu ấy lại càng không đòi hỏi một khối cổng cao đến 36m. Hòa bình được nói lên bằng sự khiêm nhường, bằng khoảng trống và mặt nước tĩnh lặng mà hồ Hoàn Kiếm đã mang sẵn ngay trong tên gọi của mình, chứ không cần bằng một cấu trúc đồ sộ mang sức mạnh và khí chất nghi lễ quân sự.
Hà Nội đã có khải hoàn môn theo cách riêng của mình
Thực ra thì 5 Cửa Ô của Hà Nội hoàn toàn có thể coi là những tiểu khải hoàn môn của Việt Nam xét theo hình thức và chức năng của các khải hoàn môn ở các nước. Mặc dù vậy, với những người gắn bó và thực sự hiểu Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long, tinh hoa kiến trúc do cha ông để lại đã rất xứng đáng được coi là một "khải hoàn môn" tầm dân tộc. Bên cạnh đó, Hà Nội còn đang có sẵn một khải hoàn môn đúng nghĩa và bằng chính ngôn ngữ Việt: Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sĩ trên đường Bắc Sơn nằm đối diện Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Về tạo hình, công trình là một khối được "bào vát" theo đúng hình dạng cổng nhà truyền thống Việt Nam, với một khối âm dát vàng ở giữa. Về ý nghĩa, nó mang trọn vẹn nội hàm của khải hoàn môn từ thế kỷ 19 trở lại đây: tưởng niệm những người đã ngã xuống vì nền độc lập. Một cái ngưỡng, một khoảng trống thiêng liêng, một lời tri ân - đó chính là khải hoàn môn, mà lại là khải hoàn môn của riêng người Việt chúng ta.
Có một điều rất đáng để thành phố cho khảo sát và xác minh: Có thông tin rằng vào dịp Quốc khánh 2/9, đứng trước Đài Bắc Sơn là có thể thấy mặt trời lặn dần lấp đầy khoảng trống, phía trên Lăng Bác và sau ngọn cờ thiêng liêng. Nếu thông tin này được xác nhận là chính xác, thì mỗi năm một lần, Hà Nội đã có sẵn một cảnh tượng khải hoàn mà không công trình mới nào sánh được bởi có cùng đẳng cấp với những căn chỉnh mặt trời nổi tiếng thế giới. Một khoảnh khắc thiêng liêng mỗi năm một lần có sức nặng hơn nhiều so với một khối bê tông đứng trơ quanh năm.
Nhưng ở tầng biểu tượng, như nhà sử học Dương Trung Quốc đã gợi mở, chính hồ Hoàn Kiếm tự thân đã là một khải hoàn môn đặc sắc, đẹp và ý nghĩa bậc nhất của Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung. Tên hồ gắn với Lê Lợi, với chiến thắng quân Minh và truyền thuyết trả lại thanh gươm sau khi đánh bại giặc ngoại xâm, giành lại chủ quyền quốc gia, trong nó đã có sẵn cả ký ức chiến thắng lẫn khát vọng hòa bình. Đó là một khải hoàn môn có một không hai trên thế giới hôm nay, đã đủ đầy những biểu tượng sống, in đậm trong tâm trí mỗi người dân Việt suốt bao thế kỷ. Khải hoàn môn ấy không cần thêm bất kỳ điểm nhấn nào nữa, và càng không cần một "vòm đá" theo lối truyền thống, bởi phía trên nó đã có cả một bầu trời hòa bình. Nó không chỉ vinh danh chiến thắng, mà còn tôn vinh lòng thủy chung và khát vọng cháy bỏng với hòa bình. Trên hết, đó là cách một dân tộc bước qua chiến tranh: trân trọng chiến thắng nhưng quyết không sống mãi bằng chiến công quân sự của ngày hôm qua khi đã có hòa bình.
Những điều nên làm hiện nay
Hồ Hoàn Kiếm và vùng phụ cận là khu vực linh thiêng không chỉ đối với người dân Thủ đô mà cả dân tộc Việt Nam. Chính vì thế, mọi việc động đến khu vực này đều hết sức nhạy cảm và cần được xem xét với sự thận trọng tối đa. Tuy nhiên, ở đây cần có sự phân biệt việc cải tạo, mở rộng và làm đẹp khu vực hồ đang nhận được sự đồng tình của đông đảo người dân, phù hợp với chủ trương nhất quán lâu nay là hạn chế công trình cao tầng quanh hồ và nay là "hạ giải" chúng; còn những ý kiến trái chiều, băn khoăn của dư luận nhân dân, trong đó có cả giới kiến trúc, văn hóa, sử học chỉ là nhắm vào riêng dự kiến xây dựng một khải hoàn môn ven hồ.
Về vấn đề này, kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm, Phó chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội đã phát biểu cho rằng trước khi đưa ra ý tưởng mới, điều quan trọng nhất là phải nhận diện đầy đủ những giá trị vốn có của khu vực. Theo ông Nghiêm, mọi đề xuất đối với Hồ Gươm cần dựa trên ba lớp giá trị. Thứ nhất là văn hiến, tức truyền thống và những giá trị lịch sử đã hình thành qua nhiều thế hệ. Thứ hai là văn minh, tức tiếp thu bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác. Cuối cùng mới đến sáng tạo, tức đưa ra giải pháp mới phù hợp với Hà Nội. Dựa trên nguyên tắc nêu trên, ông Nghiêm cho rằng câu hỏi đặt Khải Hoàn Môn tại quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục hay khu vực tượng đài Lý Thái Tổ không thể chỉ dừng ở việc công trình có đẹp hay không. Theo ông, "trước hết phải trả lời được công trình cần thiết đến mức nào, mang thông điệp gì và có thực sự phù hợp với tổng thể không gian hay không''.
Có thể thấy rõ là quanh hồ Hoàn Kiếm hoàn toàn không cần xây thêm một khải hoàn môn để có "một điểm nhấn" cho một khu vực vốn đã quá chật hẹp mà Nhà nước đang phải bỏ rất nhiều kinh phí để mở rộng, và vốn đã có quá đủ những di tích lịch sử, văn hóa tiêu biểu của cả dân tộc. Tuy nhiên, nếu các nhà kiến trúc và quản lý đô thị vẫn thực sự muốn có một khải hoàn môn như ở một số nước, Hà Nội còn nhiều nơi phù hợp hơn, trước hết là các khu vực đang đô thị hóa mạnh, nơi có được đúng cái mà thể loại công trình này đòi hỏi: một trục rộng, thoáng, nhìn được từ nhiều hướng.
Cụ thể, theo thiển ý của tôi, trước hết có thể nghĩ đến việc biến cầu Long Biên thành cây cầu chỉ dành cho người đi bộ, cải tạo khu vực đầu cầu phía Bắc thành một công viên rộng; và nếu muốn, dựng một khải hoàn môn thật xứng tầm và có kiến trúc thật đẹp và ý nghĩa tại chính công viên ấy. Người Hà Nội lớn tuổi có ai không nhớ hình ảnh các đoàn quân sau chiến thắng Điện Biên Phủ hùng dũng bước trên cây cầu này qua 5 Cửa Ô vào tiếp quản Thủ đô? Còn gì ý nghĩa hơn cho một khải hoàn môn mới ở vị trí đó. Nếu chưa thỏa mãn vì sự kiện ấy đã cách nay quá lâu, có thể cân nhắc khu Đông Anh, nơi có thành Cổ Loa lịch sử, và cũng là nơi những "pháo đài bay" B-52 đầu tiên bị bắn rơi, trở thành một "Điện Biên Phủ trên không" buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris, lập lại hòa bình ở Việt Nam đầu năm 1973.
Hơn hai nghìn năm lịch sử kiến trúc khải hoàn môn không bắt buộc Hà Nội phải sao chép Roma hay Paris. Một thủ đô có quyền sáng tạo biểu tượng của riêng mình, nhưng tại Hồ Gươm, việc đó phải trả lời được một yêu cầu khó hơn việc chỉ tạo ra một công trình gây ấn tượng. Với một di sản đã trở thành ký ức chung của bao thế hệ, phương án tốt nhất đôi khi không phải là dựng thêm để ghi dấu ấn của thời đại, mà là biết nơi nào nên để bầu trời, mặt nước và Tháp Rùa tự lên tiếng. Và quan trong hơn nữa là biết ta gìn giữ, để lại cho hậu thế những gì để chúng có thể tự hào duy trì và khâm phục.
Ngô Tiến Long
Ủy viên Ban Chấp hành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam


