A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

BẮC NINH – TỪ MIỀN QUÊ NGHÌN NĂM VĂN HIẾN ĐẾN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

Sáng 19/9/2026, Bắc Ninh long trọng tổ chức Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Theo Nghị quyết số 39/2026/QH16, kể từ ngày 20/9/2026, Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương thứ chín của cả nước. Với mỗi người dân Bắc Ninh, cũng như với bạn bè và đối tác của vùng đất này, đây là một sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt, là dấu mốc đánh dấu bước phát triển mới của miền quê nghìn năm văn hiến trong kỷ nguyên vươn mình của cả dân tộc hôm nay.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Bắc Ninh cho Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Bắc Ninh.

Kinh Bắc - vùng đất "địa linh nhân kiệt"

Năm 1010, chỉ một năm sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La (Thăng Long), Hà Nội ngày nay, mở ra một thời kỳ phát triển mới cho đất nước, đồng thời thể hiện tầm nhìn chiến lược của một trong những vị vua chói sáng nhất lịch sử phong kiến Việt Nam. Người Bắc Ninh tự hào về điều đó, bởi Lý Công Uẩn, cậu bé sinh năm 974 tại làng Cổ Pháp (nay thuộc phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), chính là người con của đất Kinh Bắc, được thiền sư Vạn Hạnh ở chùa Dận nuôi dạy, bồi dưỡng rồi tiến cử vào triều Lê Đại Hành, để đến năm 1009 lên ngôi vua, trở thành người khai sáng Vương triều Lý.

Để chuẩn bị kỷ niệm 1000 năm ngày mất của Đức vua Lý Thái Tổ (1028–2028), Bộ Ngoại giao và Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam đã phối hợp với tỉnh Bắc Ninh đệ trình hồ sơ kiến nghị UNESCO - tổ chức quốc tế lớn nhất về văn hóa, khoa học và giáo dục thuộc Liên hợp quốc vinh danh Ngài là "Danh nhân văn hóa thế giới", và đang trông đợi sớm được phê duyệt.

Không chỉ vậy, Bắc Ninh còn là nơi ghi dấu bao chiến công lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Đó là chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (năm 1077), nơi vang lên bài thơ thần "Nam quốc sơn hà", bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Nam, khép lại thắng lợi cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy; đó là chiến thắng Xương Giang (năm 1427) của nghĩa quân Lam Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, đánh tan 10 vạn viện binh nhà Minh do Liễu Thăng cầm đầu, giành lại nền độc lập trọn vẹn cho Đại Việt sau hai mươi năm bị đô hộ…

Vùng quê giàu truyền thống cách mạng

Từ khi có Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập năm 1930, Kinh Bắc tiếp tục là mảnh đất đóng góp những người con ưu tú cống hiến xuất sắc cho cách mạng Việt Nam. Đó là người thanh niên Nguyễn Văn Cừ (1912–1941), mới 26 tuổi đã được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, vị Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp theo có thể kể là Ngô Gia Tự (1908–1935), một trong những người cộng sản thuộc thế hệ đầu tiên, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người tham gia sáng lập Đông Dương Cộng sản Đảng, giữ chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Kỳ, và cũng chính là người trực tiếp dìu dắt Nguyễn Văn Cừ bước vào con đường hoạt động cách mạng. Rồi là Hoàng Quốc Việt (1905–1992) với những cương vị từng giữ như Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bắc Ninh có những nhà quân sự lớn như Trung tướng Lê Quang Đạo, người đã trở thành Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước sau khi rời chức Chủ tịch Quốc hội khóa VIII; và đặc biệt là Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VIII, IX và làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hai nhiệm kỳ liền. Vùng đất này còn có ông Nguyễn Thanh Bình (1920–2008), sĩ quan quân đội cao cấp, sau trở thành Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. Riêng trong lĩnh vực Ngoại giao, đất Kinh Bắc đã sinh ra ông Hoàng Văn Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, một trong những nhà ngoại giao tiền bối trực tiếp đặt nền móng cho quan hệ giữa Việt Nam với các nước xã hội chủ nghĩa và bạn bè quốc tế trong những năm kháng chiến cũng như dựng xây đất nước.

Vùng đất dày đặc di sản văn hóa và làng nghề truyền thống

Thành phố Bắc Ninh, vùng Kinh Bắc lịch sử có làng Kim Đôi bên dòng sông Như Nguyệt (sông Cầu theo cách gọi hiện nay) là nơi từng sinh ra 18 tiến sỹ họ Nguyễn và 7 tiến sỹ họ Phạm nổi tiếng Bắc Kỳ một thời, nay đang sở hữu một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, đặc sắc. Đó là Dân ca Quan họ Bắc Ninh, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh; là Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đó còn là hàng trăm ngôi chùa cổ mang giá trị lớn về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo như chùa Vĩnh Nghiêm đậm dấu ấn Phật giáo Trúc Lâm; chùa Dâu gắn với huyền tích Phật Mẫu, nơi giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt cổ; chùa Bút Tháp với pho tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay; chùa Bổ Đà, một trung tâm Phật giáo lớn của xứ Kinh Bắc; và đặc biệt là Đền Đô, nơi thờ tám vị vua đầu triều Lý, ghi dấu hơn hai thế kỷ(1009–1225) trị vì quốc gia.

Về sản xuất, Bắc Ninh nổi danh với vô số làng nghề truyền thống nổi tiếng Bắc Kỳ như làng tranh Đông Hồ, làng gỗ Đồng Kỵ, làng mây tre đan Xuân Lai, làng gò – đúc đồng Đại Bái, làng gốm Phù Lãng, làng rèn Đa Hội, làng rượu Làng Vân, làng bún Đa Mai, làng mây tre đan Tăng Tiến, làng bánh đa nem Thổ Hà, làng mỳ Chũ, làng bánh đa Kế…, những cái tên còn vang tiếng đến tận hôm nay.

Đất Kinh Bắc cũng là nơi sinh thành nhiều danh nhân văn hóa, nhà khoa bảng lừng danh xuyên suốt lịch sử. Có thể kể đến cụ Lê Văn Thịnh, người đỗ đầu khoa thi Nho học đầu tiên của Đại Việt (năm 1075 dưới triều Lý), một nhà chính trị – ngoại giao tài ba và là thầy dạy vua Lý Nhân Tông; danh nhân văn hóa Hàn Thuyên, nhà văn hóa lớn thời Trần, người tiên phong sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm, đặt nền móng cho nền văn học chữ Nôm nước nhà; cụ Nguyễn Viết Chất, nhà khoa bảng mở đầu truyền thống khoa cử vùng Bắc Giang, đỗ Đệ nhất giáp thời Lý; cụ Nguyễn Đăng Sở, nhà giáo dục nổi danh về văn chương và đạo đức thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn; cụ Vũ Trinh, nhà văn hóa – luật gia từng tham gia soạn bộ Luật Gia Long; và đặc biệt là cụ Cao Bá Quát, nhà thơ tài hoa bậc nhất thế kỷ XIX. Bước sang thời cận hiện đại, Kinh Bắc tiếp tục góp cho nền văn học Việt Nam những tên tuổi lớn như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Huy Cận, Xuân Diệu…

Kinh Bắc thời Hà Bắc - một nốt trầm chưa dứt

Là vùng đất văn hiến với bề dày lịch sử hào hùng đến vậy, nhưng đáng tiếc, trong nhiều thập niên gần đây, nhất là những năm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang về chung một mái nhà mang tên "Hà Bắc", nhiều lĩnh vực của đời sống nơi đây dường như chững lại, thậm chí có phần tụt hậu ngoài điểm sáng gần như duy nhất là tinh thần "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Dù khi đó ở đâu cũng khó khăn, thiếu thốn, đặc biệt là trong những tháng năm đất nước bị bao vây cấm vận nặng nề, dù có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, nguồn lực tự nhiên và con người, Hà Bắc vẫn là một tỉnh nghèo và kém phát triển hơn so với nhiều tỉnh thành có điều kiện và vị trí tương đương.

Và còn một thực tế nữa là đã nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng/Chính phủ trôi qua, người Bắc Ninh hiện diện rất thưa thớt trong hàng ngũ lãnh đạo cấp cao cũng như trong bộ máy Trung ương và Chính phủ; các nhà khoa học tầm cỡ hay doanh nhân thành đạt gốc Kinh Bắc cũng chỉ "như lá mùa thu". Thành thực mà nói, tôi cũng chẳng dám tự cho mình cái quyền phán xét, nhưng lòng vẫn không thôi tự hỏi: Hiền tài đất Kinh Bắc thuở xưa nhiều đến thế, lẽ nào nay đã vơi hết cả rồi? Hay họ vẫn còn đó, chỉ là chưa được nhìn ra hoặc chưa có cơ hội để tỏa sáng?

Thành phố Bắc Ninh hôm nay

Từ một vùng quê thuần nông - lâm trong lịch sử, bước vào công cuộc Đổi mới và đặc biệt là từ sau khi được tái lập, toàn thể chính quyền và người dân cả Bắc Ninh lẫn Bắc Giang đã nỗ lực phấn đấu về mọi mặt; mạnh dạn đa dạng hóa sản xuất – kinh doanh, liên tục đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển hàng loạt khu công nghiệp hiện đại trong đó ưu tiên công nghệ cao. Nhờ đó mà bộ mặt của mỗi tỉnh đã nhanh chóng thay da đổi thịt từng ngày, cuộc sống của người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Chính điều đó đã tạo tiền để đủ để giúp Bắc Ninh sau khi được sáp nhập đã được Đảng, Nhà nước quyết định nâng lên thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thứ 9 như vậy tại Việt Nam đến thời điểm này.

Những tiền đề ấy có nhiều, nhưng quan trọng nhất là 4 điều cơ bản như sau: Một là, về diện tích và dân số, thành phố Bắc Ninh hiện đứng thứ 26/34 về diện tích là thuộc nhóm trung bình thấp, nhưng lại đứng thứ 11/34 về dân số là thuộc nhóm có dân số khá đông của cả nước; hai là, về tài nguyên và con người, nếu tài nguyên thiên nhiên chỉ ở mức trung bình, thì nguồn nhân lực lại thuộc nhóm dẫn đầu. Tỷ lệ lao động qua đào tạo cao của Bắc Ninh cũ, cộng với lực lượng lao động trẻ, dồi dào và giàu kỷ luật công nghiệp của Bắc Giang, đã biến thành phố mới thành một "thủ phủ lao động công nghiệp công nghệ cao" hấp dẫn bậc nhất đối với dòng vốn FDI trên cả nước; ba là, về vị trí địa lý, Bắc Ninh nằm ngay cửa ngõ phía Bắc Thủ đô, trong tam giác tăng trưởng trọng điểm năng động nhất miền Bắc - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, cũng như trên các trục hành lang kinh tế xuyên quốc gia Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng; bốn là, về trình độ phát triển, năm 2025, quy mô kinh tế của tỉnh Bắc Ninh đạt trên 523 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 20 tỷ USD), đứng thứ 5 cả nước; GRP bình quân đầu người khoảng 5.850 USD, gấp gần 1,2 lần mức bình quân toàn quốc, một nền tảng vật chất rất quan trọng giúp cho chặng đường phía trước được thuận lợi hơn.

Thành phố mới hướng đến tương lai

Với truyền thống nghìn năm văn hiến rất đỗi tự hào và trên nền tảng phát triển rất ấn tượng đạt được trong những năm gần đây, thành phố Bắc Ninh mới được kỳ vọng sẽ có bước phát triển bứt phá toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới. Đó là sớm trở thành một thành phố phát triển về mọi mặt, vừa có các cơ sở công nghiệp công nghệ cao như một “thung lũng silicon” của Việt Nam, vừa có nền nông nghiệp tiên tiến, dịch vụ đa dạng, hiện đại, vừa có một nền công nghiệp văn hóa – du lịch xứng tầm và một môi trường thực sự xanh, văn minh và hạnh phúc; và để Bắc Ninh trở thành "một đô thị hiện đại nhưng vẫn đậm đà hồn cốt văn hóa Kinh Bắc" như lời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm căn dặn.

Từ mục tiêu có tính định hướng chung như vậy, nay là lúc thành phố mới này cần bắt tay xây dựng và quyết liệt triển khai ngay một loạt chương trình hành động cụ thể trên từng lĩnh vực. Trước hết, những chương trình hành động này phải đảm bảo duy trì mức tăng trưởng cao hai con số như Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã đề ra và có đóng góp xứng đáng vào tăng trưởng GDP của cả nước cũng như các nghĩa vụ khác đối với gia với tư cách là một thành phố trực thuộc Trung ương. Tiếp theo, một điều không kém phần quan trọng là thành phố cần đặc biệt quan tâm giải đáp câu hỏi của người dân: “lên thành phố cuộc sống của người dân có gì hơn hơn trước”?

Dù đây là nguyện vọng và cũng là yêu cầu hết sức tự nhiên và chính đáng của mỗi người dân toàn thành phố vào lúc này, nhưng lại không dễ đáp ứng, nên cần được xác định hết sức cụ thể và thực tế theo từng giai đoạn phát triển. Cuộc sống phải sung túc, bình an, văn minh và hạnh phúc hơn là những tiêu chí chung muôn thuở mà chính quyền nào cũng phải hướng tới, nhưng theo thiển ý của tôi, cần sớm lượng hóa những tiêu chí đó vào những lĩnh vực cụ thể như đời sống/phúc lợi xã hội, việc làm, y tế, giáo dục, văn hóa, giao thông và môi trường… để thấy trên mỗi lĩnh vực cụ thể đó sẽ có chuyển biến tốt lên hẳn so với hiện tại. Chỉ khi từng người dân cảm thấy những yêu cầu, nguyện vọng đó của họ được đáp ứng ngày càng tốt hơn, việc từ “tỉnh” lên “thành phố” mới thực sự có ý nghĩa và mang lại giá trị thực sự và bền vững. Và cũng chỉ như vậy, niềm vui hân hoan ngày đón nhận Nghị quyết của Quốc hội về việc Bắc Ninh lên thành phố mới có thể kéo dài mãi trong lòng mỗi người dân.

Đà Nẵng, từ sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đã có chiến lược phát triển phù hợp, liên tục bứt phá và trên thực tế theo cảm nhận chung đã trở thành thành phố đáng sống nhất ở Việt Nam và đây là một điển hình rất đáng noi theo dù rất khó khăn, phức tạp. Bắc Ninh lên thành phố trực thuộc Trung ương cũng có rất nhiều điều kiện thuận lợi và đang đứng trước thời cơ và vận hội để làm được như vậy nếu trên dưới một lòng quyết tâm, nỗ lực phấn đấu. Điều đó đặt ra trách nhiệm vô cùng lớn lao, thiêng liêng và toàn diện đối với ban lãnh đạo mới của Bắc Ninh, nhưng cũng đòi hỏi sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của tất cả bộ máy công quyền, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể người dân. Tất cả chúng ta có cơ sở để vững tin, hy vọng và cầu mong cho Chương mới của vùng đất Kinh Bắc ngàn năm văn hiến – thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương hôm nay sẽ thành công.

 

 

Ngô Tiến Long

Ủy viên BCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam.