Ô NHIỄM LÀNG NGHỀ: BÀI TOÁN QUẢN LÝ NGUỒN THẢI
Quá trình đô thị hóa và phát triển sản xuất góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng đặt ra áp lực ngày càng lớn đối với chất lượng không khí, nguồn nước và việc quản lý chất thải. Những trường hợp được cơ quan báo chí chính thống phản ánh tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số làng nghề cho thấy yêu cầu cấp thiết phải kiểm soát ô nhiễm từ nguồn, khắc phục sự thiếu đồng bộ của hạ tầng và kết hợp xử lý vi phạm với chuyển đổi sản xuất. Bài viết phân tích hai bất cập quản lý, bốn nhóm nguyên nhân và năm hướng giải pháp dựa trên những dẫn chứng có thể kiểm tra.
.png)
Áp lực môi trường tại đô thị và làng nghề
Tại Hà Nội, các nguồn phát thải từ giao thông, xây dựng, công nghiệp và hoạt động đốt ngoài trời là những nhóm cần kiểm soát trong quản lý chất lượng không khí. Báo Nhân Dân đã phản ánh các biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí đô thị và vai trò của quản lý phát thải giao thông. Điều kiện khí tượng có thể ảnh hưởng đến sự tích tụ chất ô nhiễm, nhưng không thay thế yêu cầu giảm phát thải từ các hoạt động kinh tế và dân sinh [2], [3].
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Báo Nhân Dân ngày 3/10/2026 nêu rõ tình trạng thiếu đồng bộ giữa mạng lưới thu gom và công trình xử lý nước thải. Theo bài báo, tại địa bàn thành phố trước sáp nhập, ba nhà máy xử lý nước thải đang vận hành có tổng công suất chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu xử lý; con số này không được hiểu là tỷ lệ xử lý thực tế của toàn thành phố sau sáp nhập. Đặc biệt, trạm xử lý nước thải khu tái định cư Vĩnh Lộc B có công suất thiết kế 3.700 m³/ngày đêm nhưng lượng nước thải về trạm chỉ khoảng 165 m³/ngày, tương đương 4,46% công suất thiết kế, do thiếu hệ thống cống thu gom. Đây là bằng chứng cụ thể cho thấy công trình xử lý đơn lẻ không thể phát huy hiệu quả nếu hệ thống đấu nối chưa hoàn chỉnh [4].
Ở làng nghề, phát triển sản xuất tạo việc làm, thu nhập và gìn giữ giá trị văn hóa, song một số hoạt động tái chế kim loại, giấy và chế biến phát sinh khí thải, nước thải hoặc chất thải rắn cần được xử lý phù hợp. Chuyên đề của Báo Nhân Dân về môi trường làng nghề ghi nhận tại địa bàn thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh, từ cuối tháng 3/2025, cơ quan chức năng rà soát 314 cơ sở; 135 cơ sở xin dừng hoặc tạm dừng hoạt động để hoàn thiện các điều kiện liên quan. Đây là số liệu của đợt kiểm tra cụ thể, không đại diện cho tất cả làng nghề cả nước [5].
Hai bất cập cần giải quyết từ gốc
Bất cập thứ nhất là hiệu quả kiểm soát nguồn thải chưa đồng đều. Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 đặt ra yêu cầu xử lý các hạn chế trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và giải quyết ô nhiễm. Từ góc độ quản trị, nếu thiếu thông tin đầy đủ về vị trí, quy mô và đặc tính nguồn thải, việc kiểm tra dễ bị động, khó đánh giá kết quả khắc phục. Với nguồn thải phân tán như giao thông, công trình xây dựng và cơ sở sản xuất xen kẽ khu dân cư, yêu cầu phối hợp giữa các ngành, địa phương càng rõ nét [1], [2], [5].
Bất cập thứ hai là sự thiếu đồng bộ giữa tốc độ phát triển sản xuất, đô thị hóa với hạ tầng thu gom, xử lý chất thải. Trường hợp Vĩnh Lộc B là minh chứng trực tiếp: công suất nhà máy đã có nhưng nước thải không được đưa về xử lý tương xứng. Ở các làng nghề, việc tổ chức sản xuất tập trung chỉ tạo hiệu quả môi trường khi hạ tầng xử lý được xây dựng, vận hành và giám sát đầy đủ. Không thể lấy việc hoàn thành công trình hay di dời cơ sở làm thước đo duy nhất của cải thiện môi trường [4], [5].
Bốn nhóm nguyên nhân: phân biệt điều kiện khách quan và trách nhiệm chủ quan
Về khách quan, trước hết là áp lực từ quy mô hoạt động kinh tế, dân cư và giao thông tăng lên, kéo theo nhu cầu xử lý chất thải lớn hơn. Tiếp đó là đặc thù sản xuất làng nghề: cơ sở quy mô nhỏ, công nghệ và mặt bằng không đồng đều, nhiều hoạt động gắn với sinh kế hộ gia đình. Các yếu tố này làm bài toán chuyển đổi khó hơn, nhưng không miễn trừ nghĩa vụ bảo vệ môi trường [2], [5].
Về chủ quan, một nguyên nhân là những hạn chế trong phối hợp quy hoạch, đầu tư, tổ chức vận hành và giám sát, thể hiện rõ ở sự không đồng bộ giữa nhà máy và hệ thống thu gom nước thải [4]. Nguyên nhân khác là việc tuân thủ quy định môi trường chưa nghiêm ở một bộ phận cơ sở sản xuất, trong khi kiểm tra và theo dõi khắc phục vi phạm ở một số địa bàn còn phải tiếp tục tăng cường theo yêu cầu của Chính phủ [1], [5]. Đây là nhận định ở cấp độ nhóm vấn đề; không quy kết cho mọi địa phương hay doanh nghiệp.
Năm hướng giải pháp gắn với bất cập và khả năng thực hiện
Trước hết, các cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương cần cập nhật danh mục nguồn thải theo loại hình, quy mô và mức độ rủi ro; kết nối thông tin quan trắc với kế hoạch kiểm tra. Hiệu quả cần được đánh giá bằng mức độ bao phủ nguồn thải, việc khắc phục vi phạm và chất lượng môi trường, không chỉ bằng số lượt kiểm tra. Đây là giải pháp trực tiếp cho bất cập về kiểm soát nguồn thải [1].
Thứ hai, ưu tiên đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, đấu nối, chuyển tải và nhà máy xử lý nước thải. Đối với công trình đã có nhưng hoạt động dưới công suất do thiếu cống thu gom, cần xác định các hạng mục kết nối còn thiếu, nguồn vốn và tiến độ hoàn thiện. Chỉ tiêu đánh giá là lượng nước thải thực tế được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn, thay vì chỉ tính công suất thiết kế [4].
Thứ ba, phân loại các cơ sở làng nghề để có phương án phù hợp: cơ sở có khả năng đáp ứng yêu cầu môi trường cần được hướng dẫn chuyển đổi công nghệ và tiếp cận cơ chế hỗ trợ hợp pháp; cơ sở vi phạm phải được xử lý theo quy định. Việc di dời, chuyển đổi ngành nghề cần gắn với đào tạo, việc làm và ổn định sinh kế, đồng thời không kéo dài tình trạng xả thải không đạt yêu cầu [1], [5].
Thứ tư, tăng cường phối hợp liên ngành và liên địa phương trong quản lý ô nhiễm không khí, lưu vực sông và cụm sản xuất. Cần có cơ chế chia sẻ dữ liệu quan trắc, phối hợp thanh tra và công bố kết quả theo thẩm quyền. Cách làm này phù hợp với tính chất liên vùng của nhiều vấn đề môi trường và yêu cầu tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước [1], [2].
Thứ năm, công khai thông tin môi trường theo quy định và phát huy giám sát cộng đồng. Người dân, cơ sở sản xuất và tổ chức xã hội cần có thông tin rõ về nguồn thải, biện pháp khắc phục và tiến độ xử lý. Cơ quan quản lý cần phân biệt thông tin đã xác minh với phản ánh đang kiểm tra, nhằm bảo đảm tính minh bạch, tránh quy kết thiếu căn cứ [1].
Bảo vệ môi trường là điều kiện của phát triển bền vững
Hai bất cập nổi bật—kiểm soát nguồn thải chưa đồng đều và hạ tầng xử lý thiếu đồng bộ—cho thấy không thể giải quyết ô nhiễm bằng những biện pháp riêng lẻ. Hiệu quả thực chất đòi hỏi kết nối quy hoạch, đầu tư, quản lý vận hành, kiểm tra tuân thủ và trách nhiệm của từng chủ thể. Đối với làng nghề, yêu cầu bảo vệ môi trường cần đi đôi với duy trì giá trị văn hóa và tạo điều kiện chuyển đổi sinh kế hợp pháp.
Trên tinh thần Chỉ thị số 20/CT-TTg, việc kiểm soát ô nhiễm cần được thực hiện kiên trì, có trọng tâm, dựa trên dữ liệu và đánh giá bằng kết quả cải thiện môi trường sống. Bảo vệ sức khỏe nhân dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao chất lượng tăng trưởng phải được xem là những mục tiêu gắn bó hữu cơ trong quá trình phát triển đất nước.
ThS. Nguyễn Mạnh Hiền
Phó Tổng thư ký, Ủy viên Ban Chấp hành Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam
Tài liệu tham khảo
Báo điện tử Chính phủ: Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về những nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt ngăn chặn, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường.
Báo Nhân Dân: Các bài viết về ô nhiễm không khí tại Hà Nội và những giải pháp kiểm soát nguồn phát thải.
Báo Nhân Dân (3/10/2026): “Thành phố Hồ Chí Minh: Nỗ lực xử lý nước thải đô thị”.
Báo Nhân Dân: Chuyên đề “Giải bài toán ô nhiễm môi trường làng nghề”.
Báo Nhân Dân (28/5/2025): “Bảo vệ môi trường làng nghề theo hướng phát triển bền vững”.
Báo điện tử Chính phủ (1/10/2025): “Hà Nội quyết tâm giải quyết ô nhiễm môi trường bằng loạt giải pháp tổng thể”.


