BÀ NGUYỄN THỊ BÌNH - BẢN LĨNH VÀ DẤU ẤN CỦA MỘT NHÀ NGOẠI GIAO NHÂN DÂN TẠI HỘI NGHỊ PARIS
Mặt trận ngoại giao là một bộ phận cấu thành quan trọng trong đường lối cách mạng của Việt Nam, đã góp phần vào chiến thắng mùa Xuân năm 1975 - miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Khi nhắc tới “Mặt trận không tiếng súng” ấy không thể không nhắc tới Nhà ngoại giao nhân dân - Nguyễn Thị Bình đầy bản lĩnh tạo dấu ấn đậm nét trong thành công của Hội nghị Paris, bà được các nước phương Tây gọi với cái tên thân mật Madam Bình.

Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam) trao đổi tại trụ sở của đoàn ở thủ đô Paris, tháng 1/1969. Ảnh: Văn Lượng - TTXVN
Từ khóa: bản lĩnh, dấu ấn, bông hồng thép
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được kí kết buộc Mỹ ngừng bắn trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam, phải rút toàn bộ quân đội khỏi miền Nam Việt Nam. Đây là Hiệp định mà quá trình đàm phán kéo dài nhất trong lịch sử thế giới với gần 5 năm. Quán triệt chủ trương “vừa đánh vừa đàm” khi chiến sự vẫn diễn ra quyết liệt trên các chiến trường, thì trên mặt trận ngoại giao các cuộc đàm phán vẫn được triển khai liên tục. Đó là “mặt trận không tiếng súng” nhưng mỗi viên đạn bắn là cuộc đấu trí quyết liệt không kém ngoài chiến trường.Khi nhắc đến Hội nghị Paris, cả thế giới và nhân dân Việt Nam đều nhớ đến bà Nguyễn Thị Bình - người phụ nữ bản lĩnh, đại diện cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại hội nghị, bà có vai trò quan trọng góp phần vào thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận ngoại giao. Với thắng lợi ở Hội nghị Paris năm 1973 đã góp phần quan trọng vào chiến thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử. Với tư tưởng vượt thời gian những bài học trong giải phóng miền Nam thống nhất đất nước vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục chỉ dẫn cho ngoại giao Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
1. Bối cảnh lịch sử và sự xuất hiện của bà Nguyễn Thị Bình tại Hội nghị Paris
Sau cơn địa chấn chính trị mạnh mẽ từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, cục diện chiến trường và chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam gia tăng áp lực ngoại giao. Hà Nội đã khéo léo tận dụng thời cơ này, buộc chính quyền Mỹ phải chấp nhận ngồi vào bàn thương lượng trực tiếp. Kết quả là, ngày 13 tháng 5 năm 1968, tại Paris, cuộc hội đàm chính thức đầu tiên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ đã diễn ra. Sự kiện này không chỉ là một bước ngoặt quan trọng, mà còn mở ra một chương mới cho cuộc chiến tranh Việt Nam, nơi các hoạt động quân sự trên chiến trường diễn ra song song với các cuộc đấu trí căng thẳng trên bàn đàm phán, hình thành nên cục diện đặc trưng “vừa đánh vừa đàm”.
Tiếp nối các cuộc tiếp xúc ban đầu, tiến trình đàm phán đã có bước phát triển mới sau khoảng tám tháng. Ngày 25 tháng 1 năm 1969, Hội nghị Paris về Việt Nam với sự tham gia của bốn bên đã chính thức khai mạc phiên họp đầu tiên. Thành phần tham dự bao gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đối diện với Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đáng chú ý, việc Washington và Sài Gòn buộc phải chấp nhận sự hiện diện chính thức, ngang hàng của phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại hội nghị là một thắng lợi quan trọng về mặt ngoại giao của lực lượng cách mạng. Đây là điều mà phía Mỹ và đồng minh miền Nam hoàn toàn không mong muốn và cố gắng né tránh trước đó.
Cho đến nay, khi nhắc tới quá trình đàm phán Hiệp định Paris, ngoài tên tuổi của những nhà ngoại giao tầm cỡ như Lê Đức Thọ, Xuân Thủy... Có một nhân vật được nhắc đến như là người không thể thiếu của Hội nghị - bởi đó là một người phụ nữ xinh đẹp, thông minh và đầy bản lĩnh. Nhân vật ấy, người phụ nữ ấy là Nguyễn Thị Bình - Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tham gia hội nghị bốn bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris giai đoạn 1968 - 1973.Thế giới tôn vinh bà bởi lẽ bà không chỉ tham gia mà còn có vai trò đặc biệt trong một sự kiện có một không hai trong lịch sử ngoại giao giữa các quốc gia để giải quyết vấn đề chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Vào giai đoạn cuối năm 1968, bà Nguyễn Thị Bình đã nhận trọng trách quan trọng khi được cử làm Trưởng đoàn trù bị và sau đó là Phó Trưởng đoàn đại diện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại bàn đàm phán Paris. Đến giữa năm 1969, một bước tiến mới trong tổ chức diễn ra với sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cùng thời điểm này, bà Nguyễn Thị Bình được bổ nhiệm vào cương vị Bộ trưởng Ngoại giao, đồng thời đảm nhận vai trò Trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ lâm thời tại Hội nghị Paris. Sự thay đổi này đánh dấu việc phái đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời kế nhiệm phái đoàn Mặt trận, tham gia hội nghị với vị thế một chính quyền tự chủ, là người đại diện đích thực cho nguyện vọng của đồng bào miền Nam.
Bà Nguyễn Thị Bình, với tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, là một người con của vùng đất Quảng Nam giàu truyền thống. Bà không chỉ hoàn thành chương trình trung học phổ thông (tú tài) mà còn nổi bật với khả năng ngoại ngữ xuất sắc, những yếu tố nền tảng cho con đường hoạt động cách mạng sôi nổi sau này. Xuất thân trong một gia đình có tinh thần yêu nước, với cha là Trưởng ban Công binh Nam bộ và là cháu ngoại của nhà ái quốc Phan Châu Trinh, lý tưởng cách mạng sớm nảy nở trong bà. Năm 1948 đánh dấu bước ngoặt khi bà chính thức gia nhập hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương. Tuy nhiên, năm 1951, bà bị chính quyền thực dân Pháp bắt giữ và trải qua những năm tháng tù đày tại khám lớn Sài Gòn rồi đến khám Chí Hòa, đối mặt với sự hà khắc của kẻ thù. Những thử thách này càng tôi luyện ý chí sắt đá của người nữ chiến sĩ. Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, bà Nguyễn Thị Bình được trả tự do vào năm 1954 và lập tức hòa mình vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, yêu cầu các bên nghiêm túc thực thi những điều khoản đã ký kết. Một năm sau (năm 1955), theo sự sắp xếp của tổ chức, bà tập kết ra miền Bắc, bà được điều ra Bắc tập kết và được đào tạo thêm theo chương trình bồi dưỡng cán bộ đặc biệt [1]. Và hơn ai hết, nói về bà Nguyễn Thị Bình không thể không nhắc đến sự nghiệp ngoại giao trong vai “chính khách tóc dài”. Với nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới, cái tên Nguyễn Thị Bình đã trở nên quá đỗi thân quen, gần gũi. Bà cũng là nhân vật được báo chí phương Tây trân trọng ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ và bà được gọi thân mật là Madam Bình.
Kiên định, sắc bén, bản lĩnh và trí tuệ, cái tên Nguyễn Thị Bình đã thể hiện bản lĩnh Việt Nam trên bàn đàm phán quốc tế. Nguyễn Thị Bình chính là nguồn cảm hứng cho bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế giới biết đến Việt Nam. Ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc, bà là biểu tượng sáng ngời về nhân phẩm và lương tri của thời đại trong thế kỉ XX.
2. Bản lĩnh "Bông hồng thép" trên Bàn đàm phán
Kiên định về nguyên tắc, giữ vững lập trường quan điểm, trong suốt quá trình thương lượng tại Paris, bà Nguyễn Thị Bình và phái đoàn đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã thể hiện một lập trường nguyên tắc hết sức vững vàng. Trước dư luận quốc tế, họ đã công khai và mạnh mẽ tuyên bố quan điểm không khoan nhượng của Việt Nam: chính Hoa Kỳ đã mang quân đội đến xâm lược và gây chiến, vì vậy, Mỹ bắt buộc phải rút hết quân đội về nước mà không được kèm theo bất kỳ điều kiện nào. Sự kiên định này không chỉ thể hiện ý chí sắt đá mà còn nhằm khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến, buộc đối phương phải đối mặt với trách nhiệm của mình.Khát vọng cháy bỏng và mục đích tối thượng, không hề lay chuyển của dân tộc Việt Nam chính là độc lập chủ quyền và thống nhất đất nước. Chân lý “nước Việt Nam là một” là nền tảng cho mọi lập luận và hành động.
Trí tuệ sắc sảo và khả năng lập luận, trong các hoạt động bên lề diễn đàn đàm phán Paris, một cuộc đối thoại công khai đáng chú ý đã diễn ra vào ngày 17 tháng 11 năm 1970. Sự kiện này do Kênh 1 của Cơ quan Phát thanh và Truyền hình Pháp tổ chức tại Câu lạc bộ báo chí, tập trung vào vấn đề Việt Nam. Tham dự có khoảng 20 nhà báo quốc tế đến từ Mỹ, Pháp và Úc, phần lớn trong số họ thể hiện quan điểm ủng hộ lập trường của Hoa Kỳ. Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện cho phía Việt Nam, đã một mình đối diện với nhóm nhà báo tên tuổi này. Dù ở thế đơn độc trước nhiều nhà báo kỳ cựu có quan điểm trái ngược, bà Nguyễn Thị Bình đã giữ vững phong thái điềm tĩnh đáng ngưỡng mộ. Bà sử dụng thành thạo tiếng Pháp để phản biện, lời lẽ vừa mạnh mẽ, kiên quyết về lập trường, vừa thể hiện sự hòa nhã, lịch thiệp. Thông qua cuộc trao đổi này, bà đã khéo léo nhấn mạnh thiện chí của Việt Nam trong việc nỗ lực tìm kiếm một giải pháp chính trị hòa bình, nhằm mục đích chấm dứt cuộc chiến tranh đang gây đau thương và tổn thất cho cả hai phía.
Cũng trong cuộc tranh biện, khi được hỏi về một Hiệp định ngầm giữa miền Bắc Việt Nam và Mỹ, bà Nguyễn Thị Bình đanh thép đưa ra những lí lẽ sắc bén “Trước hết không có hiệp định ngầm nào cả. Ông Xuân Thủy - Trưởng phái đoàn của Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị hai bên đã tuyên bố rõ ràng rằng không có hiệp định ngầm, đó là lí do thứ nhất. Thứ hai, chẳng có luật pháp nào cho phép một nước do thám hay ném bom một nước khác, cũng chẳng luật pháp nào ngăn cấm một nước mà thực ra không có nước Bắc Việt Nam hay nước Nam Việt Nam. Chúng tôi là một quốc gia. Chẳng có lí do gì để những người anh em ở nước này không giúp đỡ nước khác’. [2]
Bác bỏ các luận điệu sai trái, bà đanh thép nói: “Mỹ phải rút toàn bộ quân, đó là nguyên tắc. Không cần phải bàn! Sự hiện diện nửa triệu quân Mỹ là hết sức vô lý”. Bà liên tục nhắc nhở các nhà báo phương Tây: “Đừng đánh đồng quân xâm lược Mỹ với dân tộc Việt Nam - những người chiến đấu chống ngoại xâm và có quyền hợp pháp được đánh đuổi quân xâm lược trên lãnh thổ của mình”.
Có lần, một nhà báo phương Tây hỏi: “Bà có ở Đảng Cộng sản không?”. Bà nhanh nhẹn trả lời: “Tôi thuộc Đảng yêu nước”. Câu trả lời thông minh ấy đã khiến nhà báo kia phải cứng họng. Trong quá trình đàm phán, bà luôn tâm niệm: “Họ có quyền hỏi, mình có quyền trả lời. Nhưng trả lời thế nào để họ tâm phục khẩu phục, hiểu rõ hơn cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc mình, đó mới là điều quan trọng”. Với lập luận sắc bén, logic chặt chẽ để bảo vệ quan điểm, đường lối của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trên bàn đàm phán quốc tế. Bà thể hiện sự hiểu biết sâu rộng về luật pháp quốc tế, về tình hình chiến tranh và về quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.
Sự mềm dẻo, khôn khéo trong sách lược, sự hiện diện của hai đoàn Việt Nam tại hội nghị Paris tạo nên một thế trận ngoại giao đặc biệt. Đoàn miền Bắc và đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, tuy tách biệt, lại cùng theo đuổi một mục tiêu và quan điểm cốt lõi. Chiến lược "tuy một mà hai" này được thể hiện qua việc mỗi bên có cách tiếp cận và trình bày riêng, nhưng luôn dựa trên nền tảng lập trường chung. Kẻ địch hiểu rõ sự đồng lòng này nhưng bất lực trong việc đối phó, bởi tình hình thực địa ngày càng bất lợi cho họ. Đặc biệt, phái đoàn Mặt trận tham gia với tư cách là tiếng nói chính danh của nhân dân miền Nam đang trực tiếp cầm súng chiến đấu. Bà Nguyễn Thị Bình đã đưa ra giải pháp chính trị nhằm chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình, với từng thời kỳ, linh hoạt theo từng bước diễn biến của cuộc đấu tranh, đã đưa ra những sáng kiến được gọi là “những cuộc tấn công ngoại giao” tỏ rõ thiện chí, tranh thủ thêm dư luận, đẩy đối phương vào thế ngày càng lúng túng. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với tư cách đại diện cho nhân dân miền Bắc, hậu phương của cuộc chiến đấu, luôn đề cao vai trò của Mặt trận, ủng hộ mọi giải pháp do Mặt trận đưa ra.
Cùng với việc kết hợp đấu tranh trên bàn hội nghị với vận động dư luận quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các phong trào hòa bình, bạn bè quốc tế. Bà Nguyễn Thị Bình với phong thái tự tin, bình tĩnh nhưng cương quyết.Trên bàn đàm phán, không chỉ là lý lẽ, mà còn là sự khôn khéo, chiến thuật, phản ứng linh hoạt trước những nước đi chính trị của đối phương. Bà đã đối đầu với các nhà ngoại giao sừng sỏ của Mỹ và đồng minh, giữ vững lập trường nhưng cũng biết mềm dẻo khi cần thiết để đạt được mục tiêu cuối cùng: hòa bình, độc lập cho dân tộc.
Sức chịu đựng và ý chí sắt đá, cuộc đàm phán chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam với 202 phiên họp chung công khai, 45 cuộc họp cấp cao, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn trong thời gian hơn 4 năm từ năm 1968 đến năm 1973. Trong quá trình đó, bà Nguyễn Thị Bình - thành viên nữ duy nhất tham gia đàm phán đã khiến thế giới phải ngưỡng mộ nhờ tài ngoại giao khéo léo, mềm dẻo nhưng cũng rất kiên quyết của mình.
Hơn 4 năm đấu tranh trên “mặt trận không tiếng súng” bà Nguyễn Thị Bình đấu lý, đấu trí và cả ý chí. Khi nhận nhiệm vụ làm trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, bà Nguyễn Thị Bình cùng với đồng chí Xuân Thủy - Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ cộng hòa (năm 1968 - 1973) đã làm trưởng đoàn đến khi hội nghị Paris kết thúc. Trong khi đó về phía Mỹ thay trưởng đoàn tới 5 lần(1: Averell Harriman, 2: Henry Cabot Lodge, 3: Philip Habib, 4: David K. E Bruce, 5: William James Porter). Nhiều nhà bình luận đã nói vui: “Việt cộng nhất định thắng vì họ quá kiên trì!” Đây cũng là sự thể hiện quyết tâm sắt đá của ta, và sự lúng túng của Mỹ. [3]
Bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ trong cuốn Hồi kí “Gia đình, bạn bè và đất nước”, trong đó có đoạn nói lên khi lên đường nhận nhiệm với rất nhiều cảm xúc trong lòng, khi ấy các con của bà còn nhỏ, xa mẹ biền biệt, những bức thư mà bà nhận được từ quê nhà của con gái đều thể hiện một nỗi nhớ mẹ. Bà đã nén lại những nhớ mong, cảm xúc của người mẹ, sẵn sàng với nhiệm vụ mà đất nước giao phó. Bà cũng không ngờ rằng cuộc đàm phán lại kéo dài và cam go đến vậy. Dù phải đối mặt với nhiều áp lực, những cuộc thương lượng căng thẳng và sự thử thách về ý chí, bà vẫn kiên trì, bản lĩnh, khéo léo bảo vệ lập trường của Việt Nam, trở thành biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam thời đại mới - mạnh mẽ, trí tuệ và đầy lòng yêu nước. Chính vì vậy, bà được ví là “Bông hồng thép trên bàn đàm phán”.
3. Những Dấu ấn không phai mờ
Bà Nguyễn Thị Bình - với tư cách là đại diện cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Buộc đối phương phải công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời là một bên đàm phán bình đẳng, một thực thể chính trị đại diện cho nhân dân miền Nam.
Hiệp định Paris không chỉ là một chiến thắng trong đàm phán mà còn là một minh chứng cho lòng kiên trì, bản lĩnh và sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Chính bản Hiệp định này đã mở đường cho việc chấm dứt chiến tranh và xây dựng lại đất nước sau bao nhiêu năm tháng chiến đấu đẫm máu. Hình ảnh bà Bình trở thành biểu tượng quốc tế của cuộc đấu tranh chính nghĩa, khát vọng hòa bình của Việt Nam, thu hút sự chú ý và ủng hộ của truyền thông, dư luận thế giới. Đây là một thắng lợi ngoại giao vĩ đại và mãi mãi gắn liền với tên tuổi của bà Nguyễn Thị Bình.
Bà Nguyễn Thị Bình đã có những đóng góp trực tiếp vào nội dung Hiệp định Paris. Tham gia vào việc xây dựng, đấu tranh cho các điều khoản quan trọng liên quan đến vấn đề chính trị ở miền Nam, việc rút quân Mỹ, công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.
Với những dấu ấn không thể phai mờ, bản lĩnh bông hồng thép đã tạo nên một nữ ngoại giao mang tên Nguyễn Thị Bình. Nhà văn Nguyên Ngọc thật đúng khi nói về bà Nguyễn Thị Bình:“Có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau. Những năm tháng ấy, bà có mặt ở hầu khắp hành tinh, và thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin... Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua”.
Bà Nguyễn Thị Bình không chỉ là một nhân chứng lịch sử mà còn là một anh hùng trên mặt trận ngoại giao, một biểu tượng sáng ngời của phụ nữ Việt Nam, người đã góp phần quan trọng vào trang sử vàng của dân tộc - nhà ngoại giao nhân dân. Di sản của bà tại Hội nghị Paris vẫn còn nguyên giá trị, là nguồn cảm hứng cho các thế hệ người Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua nhưng thắng lợi trên mặt trận ngoại giao tại đàm phán Paris là minh chứng về vai trò của ngoại giao Việt Nam trong cuộc trường chinh giành độc lập của dân tộc. Ngoại giao tâm công Việt Nam đã thu phục lòng người đứng về chính nghĩa tạo nên mặt trận nhân dân chống Pháp ủng hộ Việt Nam.
Hình ảnh “Bông hồng thép” - Madam Bình tại Hội nghị Paris mãi là một biểu tượng đẹp của nền ngoại giao Việt Nam. Khí chất điềm tĩnh, sự tinh tế trong ứng xử cùng trí tuệ sắc sảo đã giúp bà lan tỏa hiệu quả thông điệp hòa bình và chính nghĩa của dân tộc đến cộng đồng quốc tế. Bà đại diện cho khát vọng độc lập, thống nhất mãnh liệt, đồng thời luôn thể hiện thiện chí tìm kiếm đối thoại và giải pháp. Những phẩm chất ấy vẫn là nguồn cảm hứng vô giá, gợi mở cho các nhà ngoại giao Việt Nam ngày nay về cách thức bảo vệ lợi ích quốc gia một cách linh hoạt, bản sắc và hiệu quả trong bối cảnh hội nhập toàn cầu./.
Ths Phạm Thị Hoạt - GV Khoa Xây dựng Đảng, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Bình, Phạm Văn Đính (2019). Nhớ lại những ngày tháng đàm phán Hiệp định Paris. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin.
2. Lê Năng Đông: Nguyễn Thị Bình, Nhà ngoại giao nhân dân, Tạp chí cộng sản, 23/1/2023
3. Nguyễn Thị Bình, Hồi kí: “Gia đình, bạn bè và đất nước”, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
4. Phim tài liệu Việt Nam của VTV, bà Nguyễn Thị Bình đấu trí tranh viện với nhà báo Quốc tế: https://youtu.be/GeRzB6vrwcQ?si=_Q3sMp7KKi5qnRvY
[1] Dựa theo trang thông tin điện tử Văn phòng Chủ tịch nước: https://vpctn.gov.vn/danh-muc-trang-chu/lanh-dao-nha-nuoc/chu-tich-pho-chu-tich-qua-cac-nhiem-ky/ba-nguyen-thi-binh.html
[2] Dựa theo Phim tài liệu Việt Nam “Madam Bình và cuộc khiêu vũ giữa bầy sói” https://youtu.be/eTAmpFLleZU?si=JkYYtS4PQWOYJ3wt
[3] Dựa theo nội dung trong cuốn Hồi kí “Gia đình, bạn bè và đất nước”.


