A A | Tăng tương phản Giảm tương phản

TÁC ĐỘNG CỦA GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO ĐẾN ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giáo dục và đào tạo tác động đến đối ngoại nhân dân thông qua việc hình thành con người với tư cách là chủ thể trung tâm của đối ngoại nhân dân. Thông qua quá trình tích lũy vốn con người, phát triển năng lực liên văn hóa và mở rộng mạng lưới xã hội xuyên biên giới, giáo dục, đào tạo tạo ra lực lượng “đại sứ nhân dân” bền vững, lâu dài. Bài viết phân tích các lý thuyết nền tảng và chuyên biệt, cũng như quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tác động của giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân; phân tích thực tiễn tác động của nhân tố giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân.

 

Từ khóa: Đối ngoại nhân dân, Giáo dục, đào tạo, Chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Abstract

Education and training exert a significant influence on people-to-people diplomacy by shaping individuals as the central actors in this form of diplomacy. Through the processes of human capital accumulation, the development of intercultural competence, and the expansion of cross-border social networks, education and training cultivate a sustainable and long-term force of “people's ambassadors”. This article examines both foundational and specialized theoretical perspectives, as well as the views of the Communist Party of Vietnam and the State of Vietnam regarding the impact of education and training on people-to-people diplomacy. It further analyzes the practical influence of education and training on people-to-people diplomacy.

Keywords: People-to-people diplomacy, Education and training, Vietnam’s foreign policy.

1. Đặt vấn đề

Điểm nổi bật trong Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV về đối ngoại là xây dựng nền đối ngoại chủ động, tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, phát triển tương xứng với vị thế đất nước, tham gia sâu hơn vào quản trị toàn cầu và huy động tối đa các nguồn lực quốc tế cho mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Văn kiện khẳng định, giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, đặt giáo dục, đào tạo ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước, có tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đất nước, trong đó có đối ngoại nhân dân(1). Bài viết phân tích 5 lý thuyết nền tảng, 3 quan điểm lý luận chuyên biệt về tác động của giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân, luận giải quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam, thực tiễn tác động của giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân.

2. Nội dung

Trong bối cảnh mới, kỷ nguyên mới, đối ngoại nhân dân ngày càng đóng vai trò quan trọng bên cạnh ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Đảng; giáo dục, đào tạo nổi lên như là nền tảng động lực hết sức quan trọng, tác động đến chiến lược phát triển quốc gia trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế - thương mại, quốc phòng - an ninh, khoa học công nghệ, văn hóa - xã hội, đối ngoại, trong đó có đối ngoại nhân dân.

2.1. Tác động của nhân tố giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân: nhìn từ lý luận

2.1.1. Các lý thuyết nền tảng

2.1.1.1. Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory)

Theo Schultz(2) và Becker(3), giáo dục và đào tạo là hình thức đầu tư vào vốn con người, có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế - xã hội dài hạn thông qua việc nâng cao năng lực của cá nhân. Cách tiếp cận này cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để lý giải vai trò nền tảng của giáo dục, đào tạo đối với việc hình thành và nâng cao chất lượng chủ thể đối ngoại nhân dân. Các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB)(4) và UNESCO(5) đã mở rộng cách hiểu vốn con người bao gồm không chỉ năng suất kinh tế mà còn cả năng lực xã hội và toàn cầu (kỹ năng mềm và năng lực liên văn hóa); giáo dục giúp người học phát triển năng lực để cùng chung sống trong một thế giới kết nối. Giáo dục, đào tạo tác động đến đối ngoại nhân dân thông qua ba cơ chế chính: Thứ nhất, nâng cao năng lực chủ thể đối ngoại nhân dân. Giáo dục, đào tạo trang bị cho cá nhân ngoại ngữ, hiểu biết quốc tế, kỹ năng giao tiếp liên văn hóa, năng lực số, từ đó làm tăng chất lượng tham gia giao lưu nhân dân. Thứ hai, tạo hiệu ứng lan tỏa xã hội. Người được giáo dục tốt sẽ lan tỏa chuẩn mực hợp tác, tin cậy và hiểu biết quốc tế trong cộng đồng. WB khẳng định, giáo dục tạo ra lợi ích xã hội vượt ra ngoài cá nhân người học(6). Thứ ba, tích lũy dài hạn cho sức mạnh mềm quốc gia. Chất lượng nguồn nhân lực là thành tố quan trọng của quyền lực mềm, khi vốn con người tăng lên, năng lực đối ngoại nhân dân của quốc gia cũng được củng cố bền vững.

Lý thuyết này cung cấp khung phân tích quan trọng để lý giải vai trò của giáo dục, đào tạo đối với đối ngoại nhân dân. Giáo dục góp phần hình thành lực lượng chủ thể có khả năng tham gia giao lưu quốc tế, đồng thời tạo nền tảng dài hạn cho việc nâng cao hiệu quả và chiều sâu của đối ngoại nhân dân trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số.

2.1.1.2. Lý thuyết quyền lực mềm (Soft Power)

Theo lý thuyết quyền lực mềm của J. S. Nye Jr., giáo dục là nguồn lực then chốt tạo nên sức hấp dẫn quốc gia bên cạnh văn hóa và chính sách đối ngoại(7). Thông qua đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy trao đổi học thuật và hình thành mạng lưới xã hội xuyên biên giới, giáo dục không chỉ góp phần gia tăng quyền lực mềm mà còn trực tiếp nâng cao hiệu quả và chiều sâu của đối ngoại nhân dân. Các chương trình học bổng và trao đổi sinh viên là công cụ chiến lược giúp quốc gia xây dựng sức hấp dẫn thông qua việc hình thành lực lượng “đại sứ nhân dân”. Người tham gia các chương trình này sẽ được nâng cao hiểu biết, tăng thiện cảm và tham gia vào mạng lưới gắn kết lâu dài với quốc gia họ đến học. Vì thế, các quốc gia ngày càng sử dụng giáo dục, đào tạo như một kênh đối ngoại nhân dân chiến lược nhằm xây dựng lòng tin, mở rộng ảnh hưởng và củng cố quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.

2.1.1.3. Lý thuyết liên kết xuyên quốc gia (Transnational Relations)

Theo lý thuyết liên kết xuyên quốc gia của Joseph S. Nye Jr. và Robert O. Keohane(8), giáo dục, đào tạo được xem là một trong những cơ chế quan trọng tạo lập các mạng lưới xã hội và học thuật xuyên biên giới, từ đó cung cấp nền tảng vật chất - xã hội cho đối ngoại nhân dân. Thông qua cộng đồng cựu sinh viên, mạng lưới nghiên cứu và các kênh trao đổi học thuật, giáo dục, đào tạo tạo ra hạ tầng vật chất - xã hội cho đối ngoại nhân dân vận hành một cách bền vững.

2.1.1.4. Lý thuyết kiến tạo xã hội (Social Constructivism)

Theo lý thuyết kiến tạo xã hội của Wendt A.(9), bản sắc và lợi ích quốc gia được hình thành thông qua quá trình tương tác và xã hội hóa. Giáo dục, đào tạo giữ vai trò là một thiết chế xã hội hóa trọng yếu, góp phần định hình nhận thức, giá trị và thái độ của các chủ thể tham gia quan hệ quốc tế. Thông qua giáo dục quốc tế, trao đổi học thuật và môi trường học tập đa văn hóa, các cá nhân dần nội hóa các chuẩn mực hợp tác và phát triển bản sắc xuyên quốc gia, từ đó tạo nền tảng nhận thức - xã hội bền vững cho đối ngoại nhân dân. Khi các cá nhân nội hóa những chuẩn mực này, hành vi tham gia đối ngoại nhân dân có xu hướng chuyên nghiệp, hợp tác và phù hợp thông lệ quốc tế hơn, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của đối ngoại nhân dân. Như vậy, tác động của giáo dục, đào tạo đối với đối ngoại nhân dân không chỉ mang tính công cụ mà còn mang tính kiến tạo sâu sắc.

2.1.1.5. Lý thuyết ngoại giao công chúng và ngoại giao văn hóa (Public Diplomacy and Cultural Diplomacy)

Nghiên cứu về ngoại giao công chúng hiện đại, đặc biệt, các công trình của Nicholas J. Cull(10) và Jan Melissen(11) nhấn mạnh rằng, giáo dục, đào tạo và giao lưu học thuật là công cụ có tác động sâu rộng và bền vững nhất, là phương thức tạo ảnh hưởng dài hạn hiệu quả nhất. Thông qua quá trình tiếp xúc sâu và bền vững giữa con người với con người, giáo dục quốc tế góp phần hình thành mạng lưới quan hệ, tích lũy thiện cảm và xây dựng lòng tin xã hội lâu dài. Cách tiếp cận này cung cấp cơ sở lý luận quan trọng để lý giải vai trò nền tảng của giáo dục - đào tạo đối với đối ngoại nhân dân trong bối cảnh mới.

2.1.2. Các quan điểm lý luận chuyên biệt về tác động của giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân

2.1.2.1. Giáo dục hình thành nhận thức và thái độ đối với "người ngoài" (the Other)

Gordon W. Allport đưa ra lý thuyết tiếp xúc (Contact Hypothesis), cho rằng, tiếp xúc trực tiếp giữa các nhóm xã hội, nếu diễn ra trong những điều kiện phù hợp, có thể làm giảm định kiến và tăng cường hiểu biết lẫn nhau(12). Trong đối ngoại nhân dân, cựu sinh viên quốc tế là nguồn lực xã hội chiến lược của ngoại giao nhân dân và mạng lưới cựu sinh viên quốc tế là hạ tầng xã hội mềm cho hợp tác lâu dài. Các chương trình trao đổi giáo dục đã tạo ra môi trường tiếp xúc liên văn hóa sâu rộng giữa công dân các quốc gia. Sinh viên quốc tế, sau khi trở về nước, thường duy trì mạng lưới quan hệ và có thái độ tích cực hơn đối với quốc gia, nơi họ đã từng học tập, qua đó trở thành những “cầu nối nhân dân” quan trọng, góp phần thúc đẩy đối ngoại nhân dân theo chiều sâu và bền vững.

2.1.2.2. Giáo dục nâng cao năng lực tổ chức và vận động quốc tế

Theo lý thuyết vốn xã hội của Putnam, trình độ giáo dục là biến dự báo quan trọng đối với mức độ tham gia xã hội và mức độ gắn kết công dân(13). Giáo dục, đào tạo không chỉ giúp nâng cao tri thức mà còn trang bị các kỹ năng như: mở rộng mạng lưới quan hệ, củng cố lòng tin, phát triển các kỹ năng hợp tác, trực tiếp nâng cao kỹ năng lập kế hoạch, quản trị dự án, viết đề xuất và vận động chính sách,… của các chủ thể đối ngoại nhân dân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những năng lực này giúp nâng cao khả năng tham gia hiệu quả của các chủ thể nhân dân vào các hoạt động hợp tác và vận động quốc tế, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đối ngoại nhân dân.

2.1.2.3. Ngoại ngữ với tư cách là cầu nối của đối ngoại nhân dân

Ngoại ngữ được xem là công cụ nền tảng của tương tác xuyên biên giới. Theo UNESCO, năng lực ngôn ngữ là thành tố cốt lõi của năng lực công dân toàn cầu, cho phép cá nhân giao tiếp hiệu quả với cộng đồng quốc tế, tiếp cận tri thức toàn cầu, tham gia mạng lưới xuyên quốc gia(14). Năng lực ngôn ngữ gắn liền với năng lực giao tiếp liên văn hóa, cho phép cá nhân vượt qua rào cản ngôn ngữ, tiếp cận tri thức quốc tế và xây dựng quan hệ xã hội xuyên quốc gia. Do đó, khi năng lực ngoại ngữ của người dân được nâng cao thông qua chính sách giáo dục, đào tạo quốc gia, khả năng giao tiếp trực tiếp, hình thành mạng lưới xuyên quốc gia và vận động quốc tế của các chủ thể đối ngoại nhân dân cũng được mở rộng, qua đó làm gia tăng cường độ và hiệu quả của đối ngoại nhân dân.

2.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tác động của giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân

Đảng, Nhà nước Việt Nam coi “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai của dân tộc”(15). Giáo dục vừa là một lĩnh vực hợp tác quốc tế quan trọng, vừa là công cụ thúc đẩy giao lưu nhân dân, tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, gắn kết giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới, qua đó góp phần củng cố hòa bình, hữu nghị và nâng cao vị thế quốc gia.

2.2.1. Giáo dục, đào tạo là cầu nối của giao lưu nhân dân và xây dựng tình hữu nghị quốc tế, thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế

Nghị quyết số 29-NQ/TW xác định, phải “chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo”(16). Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập quốc tế… và cần chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng(17). Giáo dục, đào tạo là lĩnh vực tiên phong mở rộng hợp tác quốc tế, tiếp thu tri thức nhân loại và kết nối Việt Nam với thế giới, là công cụ hình thành nguồn nhân lực có khả năng làm việc, hợp tác và cạnh tranh trong môi trường quốc tế, qua đó trực tiếp phục vụ tiến trình hội nhập toàn diện của đất nước. Đảng ta nhấn mạnh mục tiêu giáo dục, đào tạo con người có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)(18) và yêu cầu: “xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, và hội nhập quốc tế”(19). Những định hướng đó tạo điều kiện cho các hoạt động trao đổi học sinh, sinh viên, giảng viên, nghiên cứu khoa học và giao lưu học thuật giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước.

2.2.2. Giáo dục, đào tạo là phương thức quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia

Đảng ta coi giáo dục, đào tạo là một công cụ quan trọng để phát triển con người Việt Nam toàn diện, quảng bá các giá trị văn hóa dân tộc, tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII xác định: phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, là động lực cho phát triển đất nước và hội nhập quốc tế(20). Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong giáo dục, đào tạo, mở rộng hợp tác với các cơ sở giáo dục, nghiên cứu trên thế giới; tăng cường thu hút sinh viên quốc tế đến học tập tại Việt Nam và tạo điều kiện cho công dân Việt Nam học tập, nghiên cứu ở nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy giao lưu nhân dân, nâng cao vị thế quốc gia. Nghị quyết số 29-NQ/TW khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài… mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín,… khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam(21). Chính phủ đặt ra yêu cầu tăng cường hội nhập quốc tế: chủ động hợp tác song phương và đa phương…; đẩy mạnh hợp tác quốc tế giữa các cơ sở giáo dục Việt Nam với các đối tác có uy tín của nước ngoài; tiếp tục đào tạo nguồn lực chất lượng cao ở nước ngoài,…(22). Đây là cơ sở chính trị quan trọng để trao đổi sinh viên, thu hút người nước ngoài học tập tại Việt Nam và đẩy mạnh việc đưa công dân Việt Nam đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, lan tỏa các giá trị văn hóa, lịch sử và thành tựu phát triển của đất nước, qua đó nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục trở thành một bộ phận của ngoại giao văn hóa và đối ngoại nhân dân, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới.

2.2.3. Giáo dục, đào tạo tạo nguồn nhân lực cho hoạt động đối ngoại nhân dân, góp phần hình thành công dân toàn cầu nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc

Giáo dục, đào tạo chuẩn bị đội ngũ công dân, chuyên gia, nhà khoa học, sinh viên có năng lực tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế và giao lưu nhân dân. Đại hội XIII của Đảng xác định tiếp tục đổi mới đồng bộ mục tiêu, nội dung, chương trình phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có năng lực sáng tạo, ý thức công dân, trách nhiệm xã hội(23), hướng tới việc hình thành nguồn nhân lực có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, giao tiếp liên văn hóa và tham gia các hoạt động đối ngoại, trong đó có đối ngoại nhân dân của đất nước.

Chủ trương xây dựng thế hệ công dân có năng lực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lòng yêu nước và trách nhiệm xã hội của Đảng và Nhà nước ta là chủ trương rất đúng đắn trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Nghị quyết 71-NQ/TW khẳng định, “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc”, “phát triển giáo dục trên nền tảng văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa nhân loại, chuẩn mực quốc tế; giáo dục, đào tạo công dân Việt Nam trở thành công dân toàn cầu”(24). Mục tiêu của giáo dục là “xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”(25), giữa bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế. Điều này giúp người Việt Nam tham gia hiệu quả vào các hoạt động đối ngoại nhân dân, vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại vừa quảng bá các giá trị Việt Nam ra thế giới.

Tóm lại, giáo dục, đào tạo vừa là động lực phát triển đất nước, vừa là phương tiện quan trọng của đối ngoại nhân dân. Thông qua hợp tác giáo dục, giao lưu học thuật và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, quảng bá hình ảnh Việt Nam và thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện.

2.3. Thực tiễn tác động của nhân tố giáo dục, đào tạo đến đối ngoại nhân dân

2.3.1. Thực tiễn trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực tác động đến đối ngoại nhân dân

Đối ngoại nhân dân lấy nhân dân làm chủ thể trực tiếp, do đó trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực quyết định mức độ chủ động, hiệu quả và chiều sâu của các hoạt động giao lưu, hợp tác, vận động quốc tế. Trình độ dân trí thể hiện ở mức độ hiểu biết chính trị, pháp luật, văn hóa, lịch sử, khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin quốc tế của người dân. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp liên văn hóa, tư duy hội nhập và năng lực truyền thông, vận động. Khi trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, đối ngoại nhân dân từng bước chuyển từ giao lưu hữu nghị mang tính phong trào sang hoạt động có mục tiêu, có nội dung, có thông điệp và có khả năng tạo ảnh hưởng quốc tế.

Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực giúp nâng cao khả năng tham gia chủ động của người dân vào đối ngoại nhân dân. Nhờ hiểu rõ đường lối, quan điểm đối ngoại của nhà nước; nhận thức đúng về lợi ích quốc gia - dân tộc trong bối cảnh hội nhập, người dân có thể chủ động tham gia các hoạt động giao lưu nhân dân, giao lưu văn hóa, hợp tác phi chính phủ, đối thoại hòa bình.

Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực góp phần nâng cao hiệu quả truyền tải hình ảnh, thông điệp của Việt Nam ra thế giới. Chủ thể đối ngoại nhân dân có trình độ, sử dụng tốt ngoại ngữ và có kỹ năng giao tiếp liên văn hóa sẽ có khả năng truyền tải hình ảnh Việt Nam hòa bình, thân thiện, đổi mới và hội nhập một cách thuyết phục; giải thích, làm rõ quan điểm, chính sách của Việt Nam trước các vấn đề quốc tế nhạy cảm; hạn chế hiểu lầm, định kiến trong giao lưu nhân dân.

Trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ thúc đẩy tính chuyên nghiệp và bền vững của đối ngoại nhân dân, giúp thuận lợi trong việc thiết kế chương trình đối ngoại nhân dân có chiều sâu, có nội dung chuyên môn; nâng cao năng lực đàm phán, quản lý dự án, vận động tài trợ, phối hợp quốc tế; tăng tính kế thừa, liên tục trong hoạt động đối ngoại nhân dân.

Trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực quyết định khả năng tham gia đối ngoại nhân dân trên không gian mạng, sản xuất và lan tỏa thông tin tích cực, phản bác kịp thời thông tin sai lệch, xuyên tạc về Việt Nam; hình thành ngoại giao nhân dân số, phù hợp với xu thế cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, thanh niên, sinh viên, trí thức Việt Nam ngày càng sử dụng hiệu quả mạng xã hội để kể câu chuyện Việt Nam, quảng bá văn hóa, con người, thành tựu phát triển, qua đó mở rộng không gian và phương thức đối ngoại nhân dân.

Tóm lại, trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực có tác động trực tiếp, quyết định đến hiệu quả và chiều sâu của đối ngoại nhân dân. Khi dân trí được nâng cao và nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, đối ngoại nhân dân ngày càng phát huy vai trò là kênh đối ngoại quan trọng, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và củng cố môi trường hòa bình, hợp tác cho phát triển.

2.3.2. Thực tiễn giáo dục ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa tác động đến hoạt động đối ngoại nhân dân

Giáo dục ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa tác động trực tiếp, sâu rộng và lâu dài đến hoạt động đối ngoại nhân dân, thể hiện trên các phương diện sau:

Thứ nhất, nâng cao năng lực chủ thể đối ngoại nhân dân. Giáo dục ngoại ngữ giúp cán bộ làm công tác đối ngoại nhân dân, hội viên các tổ chức nhân dân, sinh viên, thanh niên,… vượt qua rào cản ngôn ngữ, giao tiếp trực tiếp, bình đẳng với bạn bè quốc tế. Kỹ năng giao tiếp liên văn hóa giúp họ hiểu đúng bối cảnh văn hóa, chuẩn mực giao tiếp, tâm lý đối tác,… từ đó ứng xử linh hoạt, phù hợp, hạn chế hiểu lầm, xung đột không cần thiết. Đây là điều kiện nền tảng để đối ngoại nhân dân đi vào chiều sâu, thực chất, không chỉ dừng ở giao lưu hình thức.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả truyền thông đối ngoại và quảng bá hình ảnh quốc gia. Ngoại ngữ tốt kết hợp với hiểu biết văn hóa giúp các chủ thể đối ngoại nhân dân truyền tải chính xác, thuyết phục đường lối đối ngoại của đất nước; giới thiệu đúng đắn hình ảnh đất nước, con người, văn hóa của đất nước ra thế giới; chủ động phản bác các thông tin sai lệch, định kiến, xuyên tạc về đất nước trong giao tiếp quốc tế. Qua đó, góp phần xây dựng “sức mạnh mềm” và uy tín quốc tế của đất nước từ kênh nhân dân.

Thứ ba, mở rộng phạm vi và đa dạng hóa hình thức đối ngoại nhân dân. Khi trình độ ngoại ngữ và năng lực liên văn hóa được nâng cao, các hoạt động đối ngoại nhân dân dễ dàng mở rộng sang nhiều khu vực, đối tác mới; phát triển các hình thức mới (giao lưu trực tuyến, diễn đàn quốc tế, mạng lưới nhân dân xuyên quốc gia, hợp tác học thuật - văn hóa - xã hội,…).

Thứ tư, củng cố lòng tin và nền tảng xã hội cho quan hệ đối ngoại. Giao tiếp liên văn hóa hiệu quả giúp tạo sự tôn trọng, thấu hiểu và đồng cảm giữa nhân dân các nước; xây dựng lòng tin bền vững, từ đó hình thành các mối quan hệ hữu nghị lâu dài. Ở Việt Nam, đây chính là nền tảng xã hội quan trọng bổ trợ cho đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước, đúng với phương châm: đối ngoại nhân dân là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại.

Thứ năm, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đối ngoại nhân dân chất lượng cao. Giáo dục ngoại ngữ và kỹ năng liên văn hóa giúp hình thành thế hệ cán bộ, trí thức, thanh niên có tư duy toàn cầu, gắn bó với lợi ích quốc gia - dân tộc; hình thành lực lượng “đại sứ nhân dân” có khả năng đại diện cho Việt Nam trong giao lưu quốc tế một cách tự tin, chuẩn mực và hiệu quả.

Tóm lại, giáo dục ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa là nhân tố then chốt nâng cao chất lượng, chiều sâu và sức lan tỏa của hoạt động đối ngoại nhân dân; giúp biến giao lưu nhân dân từ tiếp xúc đơn thuần sang hợp tác thực chất, góp phần củng cố hòa bình, hữu nghị và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.

2.3.3. Thực tiễn giáo dục chính trị, lịch sử, văn hóa dân tộc tác động đến đối ngoại nhân dân

Thứ nhất, giáo dục chính trị giúp định hướng tư tưởng và bản lĩnh cho chủ thể đối ngoại nhân dân. Thông qua giáo dục chính trị, cán bộ và nhân dân nhận thức đúng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; hiểu rõ mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc với trách nhiệm quốc tế; có bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giao lưu quốc tế.

Thứ hai, giáo dục lịch sử giúp củng cố “sức mạnh mềm” và tính chính danh trong đối ngoại nhân dân, giúp các chủ thể đối ngoại nhân dân lưu giữ ký ức lịch sử dân tộc, hiểu sâu sắc truyền thống yêu nước, hòa hiếu, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam; nhận thức đúng về các cuộc đấu tranh giành độc lập, bảo vệ chủ quyền, từ đó truyền tải chính xác thông điệp lịch sử ra thế giới; tạo nền tảng để giải thích, đối thoại, phản bác các luận điệu xuyên tạc lịch sử Việt Nam; qua đó biến lịch sử trở thành nguồn lực mềm để xây dựng niềm tin, sự đồng cảm của bạn bè quốc tế; góp phần nâng cao hiệu quả ngoại giao nhân dân.

Thứ ba, giáo dục văn hóa dân tộc giúp nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa và giao lưu nhân dân, giúp hình thành bản sắc, sự tự tin văn hóa và năng lực giao tiếp liên văn hóa cho chủ thể trực tiếp của đối ngoại nhân dân, làm cho văn hóa trở thành kênh truyền tải hình ảnh quốc gia sinh động, thuyết phục; tăng khả năng kết nối, thấu hiểu, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước; góp phần xây dựng ngoại giao toàn diện, trong đó đối ngoại nhân dân là một trụ cột quan trọng.

Tóm lại, giáo dục chính trị, lịch sử, văn hóa dân tộc là nhân tố nền tảng, tạo nên định hướng chính trị đúng đắn; bản lĩnh, bản sắc và sức thuyết phục; nguồn lực mềm bền vững cho đối ngoại nhân dân. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, đây chính là điều kiện bảo đảm để đối ngoại nhân dân Việt Nam vừa mở rộng giao lưu, hợp tác, vừa giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.

3. Kết luận

Giáo dục, đào tạo tác động đến đối ngoại nhân dân thông qua ba kênh chủ yếu: (1) hình thành năng lực và nhận thức của chủ thể; (2) tạo lập mạng lưới quan hệ xuyên quốc gia; (3) xây dựng hình ảnh và sức hút quốc gia. Giáo dục, đào tạo vừa là nền tảng tri thức, vừa là kênh lan tỏa giá trị, qua đó thúc đẩy đối ngoại nhân dân phát triển theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Ngược lại, đối ngoại nhân dân mở rộng không gian hợp tác quốc tế, tạo điều kiện để giáo dục - đào tạo tiếp cận nguồn tri thức, công nghệ và phương pháp tiên tiến của thế giới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, giáo dục và đào tạo ngày càng giữ vai trò then chốt trong việc hình thành đội ngũ công dân toàn cầu có bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn và ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc. Vì vậy, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục với yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển đối ngoại nhân dân, sẽ là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao vị thế, uy tín và sức mạnh mềm của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

 

   PGS. TS. Lê Văn Toan 

Giảng viên cao cấp Đại học Phương Đông, Giám đốc sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; 

UVBCH Hội đồng Hòa bình và Phát triển Việt Nam

Tài liệu tham khảo

(1), (15, tr.378), (19, tr.379). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.2, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2026.

(2). Schultz T. W. (1961): “Investment in human capital”, American Economic Review, 51(1), pp.1-17.

(3). Becker G. S. (1964/1993): Human capital: A theoretical and empirical analysis (3rd ed.), University of Chicago Press.

(4), (6). WB (2018): World development report 2018: Learning to realize education’s promise, Washington DC, World Bank.

(5). UNESCO (2015): Rethinking education: Towards a global common good? Paris, UNESCO.

(7). Joseph S. Nye Jr. (2004): Soft Power: The Means to Success in World Politics, PublicAffairs.

(8). Joseph S. Nye Jr. and Robert O. Keohane: “Transnational Relations and World Politics: An Introduction”, published online by Cambridge University Press: 22 May 2009.

(9). Wendt A. (1992): “Anarchy is what states make of it: The social construction of power politics”, International Organization, 46(2), pp.391-425.

(10). Cull Nicholas J. (2008): “Public diplomacy: Taxonomies and histories”, The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science, 616(1), pp.31-54.

(11). Melissen Jan (ed.) (2005): The New Public Diplomacy: Soft Power in International Relations, Palgrave Macmillan.

(12). Allport G. W. (1954): The nature of prejudice, Addison-Wesley.

(13). Putnam R. D. (2000): Bowling alone: The collapse and revival of American community, Simon & Schuster.

(14). UNESCO (2013): Intercultural competences: Conceptual and operational framework, Paris, UNESCO.

(16), (21). Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

(17), (18), (20), (23), (25). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2021.

(22). Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(24). Ban Chấp hành Trung ương: Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

 

 


Lượt xem: 2
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết